Ginseng and Herbs

Tam thất có phải Sâm không?

Tam thất có phải là Sâm không?

Tam thất là một loại dược liệu quý, mang lại nhiều lợi ích có sức khỏe. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: Tam thất có phải Sâm không? Để có thể trả lời câu hỏi này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu để có cái nhìn khái quát hơn về giá trị các loại dược liệu của Việt Nam.

1. Sâm là gì?

Sâm theo y học cổ truyền là tên gọi chung chỉ một số loại cây thân thảo mà củ và rễ được sử dụng làm thuốc từ rất lâu đời tại nhiều nước châu Á trong đó có Việt Nam, thuộc nhiều chi và họ thực vật khác nhau nhưng chủ yếu là các loại thuộc chi Panax họ Nhân sâm (Araliacea).

Tam thất có phải là Sâm không?
Sâm được dùng làm thuốc.

Theo phân loại thực vật học thì Sâm được dùng để gọi các loài thuộc chi Panax. Tên chi Panax (Pan=tất cả + axos=thuốc) có nghĩa là ‘chữa khỏi tất cả’ trong tiếng Hy Lạp. Loài thảo dược này có tên là Nhân sâm vì nó có hình dạng giống như một người đàn ông – thể hiện bản chất khỏe mạnh về “cơ thể, trí óc và tinh thần” và được gọi là vua của các loại thảo dược. Tên gọi Nhân sâm được mô tả sớm nhất trong tất cả các loại Sâm.

Theo lịch sử y học cổ truyền của Trung Quốc từ 3000 năm trước Công nguyên, Nhân sâm đã được xem như là một thần dược trong “Thần nông bản thảo” của vua Thần Nông[1], sử dụng như một loại thuốc bổ để tăng sinh lực, nhưng hiếm khi được dùng như một loại thuốc chữa bệnh, mặc dù theo Bancao Gangmu (Bách khoa toàn thư về thảo dược) do Lý Thời Trân viết ở Trung Quốc vào năm 1596 sau Công nguyên, nó được đưa vào như một thành phần để chữa 23 bệnh. Nhân sâm cũng được đưa vào 653 (16,6%) trong tổng số 3.944 đơn thuốc trong Dongeui Bogam (Dược điển lâm sàng Hàn Quốc), do nhà thảo dược học Hàn Quốc Huh Joon biên soạn vào năm 1610 sau Công nguyên [1].

Chính vì vậy, một số vị thuốc khác không thuộc chi, họ Sâm nhưng có hình dáng củ tương tự cũng thường được gọi là Sâm. Thêm vào đó, Sâm là một vị thuốc bổ nên nhiều vị thuốc khác có tác dụng bồi bổ cơ thể cũng được gọi là Sâm hoặc gắn với chữ Sâm.

Ở Việt Nam có nhiều dược liệu có tên “Sâm” được sử dụng từ rất lâu đời, với nhiều công dụng khác nhau. Sau đây là một số dược liệu không thuộc chi Panax nhưng vẫn được gọi là “Sâm”

+ Sâm bố chính còn gọi là Sâm báo, Sâm thổ hào, Nhân sâm Phú Yên. Có tên khoa học Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr., Malvaceae (họ Bông).

+ Sâm cau còn gọi là Tiên mao, Ngải cau, Cồ nốc lan. Tên khoa học Curculigo orchioides Gaertn, Hypoxidaceae.

+ Sâm đại hành còn có tên là tỏi Lào, hành đỏ, tỏi đỏ, kiệu đỏ. Có tên khoa học Eleutherine subaphylla Gagnep., Iridaceae (họ Lay dơn)

+ Đan sâm còn gọi là Huyết sâm, Xích sâm. Tên khoa học Salvia miltiorrhiza Bunge, Lamiaceae (họ Hoa môi).

+ Đảng sâm còn gọi là Đẳng sâm, Sâm dây, thượng đảng Nhân sâm . Tên khoa học Codonopsis javanica (Blume) Hook.f & Thomson, Campanulaceae (họ Hoa chuông).

Như vậy, “Sâm” theo tên gọi Việt Nam dùng để chỉ các vị thuốc thuộc họ Nhân sâm hoặc có hình dạng củ, công dụng bổ dưỡng giống như Nhân sâm.

2. Tam thất có phải là Sâm không?

Tam thất còn có tên gọi khác là Tam thất bắc, Sâm tam thất, Điền thất nhân sâm, Kim bất hoán [2] có danh pháp khoa học là Panax notoginseng (Burk.) F. H.Chen, Araliaceae (họ Nhân sâm ). Tam thất có nguồn gốc từ Đông Á và Bắc Mỹ, nó chủ yếu phát triển mạnh ở các vùng Vân Nam và Quảng Tây phía tây nam Trung Quốc [3]. Đây là một loại thuốc cổ truyền được sử dụng rộng rãi của Trung Quốc có tên là Sanqi hoặc Tianqi, và còn được gọi là Sâm Trung quốc hay tên tiếng anh là “Chinese ginseng” hoặc “Notoginseng” [4].

Tam thất có phải là Sâm không?
Tam thất có phải là Sâm không?

Những yếu tố góp phần khẳng định Tam thất là Sâm:

– Danh pháp khoa học: Tam thất có danh pháp khoa học là Panax notoginseng, Tam thất thuộc chi Panax trong họ Nhân sâm (Araliaceae), cùng chi với Nhân sâm (Panax ginseng). Việc được gọi là notoginseng (pseudo-ginseng) chứng tỏ Tam thất có nhiều đặc điểm tương tự với Nhân sâm.

– Thành phần hóa học: Tam thất chứa nhiều saponin, đặc biệt là các loại ginsenosid và notoginsenosid, các hợp chất đặc trưng của Nhân sâm. Các saponin chính bao gồm ginsenosid Rb1, Rg1, đây là những hợp chất tương tự với Nhân sâm [5]. Hàm lượng saponin này trong Tam thất ước tính lên đên 15% lớn hơn rất nhiều so với Nhân sâm (4%) [6].

– Tác dụng và công dụng:

+ Theo Y học cổ truyền: Theo Dược điển Việt Nam V, Tam thất có tác dụng tán ứ chi huvết, tiêu sưng giảm đau. Chủ trị trong chữa trị các loại chảy máu, nhất là chảy máu có ứ huyết như thổ huyết, khối huyết, nục huyết, tiểu tiện ra huyết, sưng đau do chấnthương, ngực bụng đau nhói [7]. Trong cuốn Bản thảo cương mục mô tả công dụng của Tam thất tương tự như Nhân sâm. Sự khác biệt là Nhân sâm tốt cho việc bổ khí, trong khi Tam thất đặc biệt hữu ích cho việc nuôi dưỡng máu [8].

+ Theo Y học hiện đại: Tam thất cũng thể hiện các tính chất quan trọng như cầm máu, kháng viêm, giảm đau do ứ huyết, bảo vệ mạch máu, lưu thông máu, chống lão hóa, chống khối u, kích thích miễn dịch, hoạt động chống lại phóng xạ [9],[6], tương đồng với một số tác dụng của Nhân sâm đã được ghi nhận,

3. Kết luận

Từ các đặc điểm trên, mặc dù củ Tam thất không có hình dạng tương tự “Nhân sâm” nhưng có thể xếp Tam thất là một loài Sâm bởi cùng chi (Panax) và cùng họ (Araliaceae) với Nhân sâm và có các thành phần hoạt chất cũng như những công dụng ưu việt mà nó mang lại tương tự như Nhân sâm.

Tài liệu tham khảo

  1. Mayer C. Brief Introduction of Panax ginseng. J Korean Med Sci. 2001, 16, S3-5.
  2. Bích Đ. H., Tập N., Hiển P. V., Toàn T., Lộ V. N., et al. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II. 2017.
  3. Wei G., Zhang G., Li M., Zheng Y., Zheng W., et al. Panax notoginseng: panoramagram of phytochemical and pharmacological properties, biosynthesis, and regulation and production of ginsenosides. Horticulture Research. 2024, 11(8), 10.1093/hr/uhae170.
  4. Du G.-h., Yuan T.-y., and Zhang Y.-x. The potential of traditional Chinese medicine in the treatment and modulation of pain. Advances in pharmacology. 2016, 75, 325-361.
  5. Xu Y., Tan H.-Y., Li S., Wang N. and Feng Y. J. T. A. j. o. C. m. Panax notoginseng for inflammation-related chronic diseases: a review on the modulations of multiple pathways. 2018, 46(05), 971-996.
  6. Liu H., Lu X., Hu Y. and Fan X. J. P. r. Chemical constituents of Panax ginseng and Panax notoginseng explain why they differ in therapeutic efficacy. 2020, 161, 105263.
  7. Tế B. Y. J. Y. h., Hà Nội. Dược điển Việt Nam V, tập 2, Nxb. 2018.
  8. Wang T., Guo R., Zhou G., Zhou X., Kou Z., et al. Traditional uses, botany, phytochemistry, pharmacology and toxicology of Panax notoginseng (Burk.) FH Chen: a review. Journal of ethnopharmacology. 2016, 188, 234-258.
  9. Du G.-h., Yuan T.-y., Du L.-d. and Zhang Y.-x., Chapter Twelve – The Potential of Traditional Chinese Medicine in the Treatment and Modulation of Pain, in Advances in Pharmacology, J.E. Barrett, Editor. 2016, Academic Press. p. 325-361.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Nhắn Messenger
Nhắn tin Messenger
Chat Zalo
Chat Zalo
shopping cart